Nghệ thuật và bảng phân loại nghệ thuật là gì?

Hệ thống hóa phân loại các loại hình nghệ thuật, và phân tích mối quan hệ giữa các nghệ thuật là một trong những đối tượng nghiên cứu quan trọng của mỹ học. Nhưng muốn lập được bảng phân loại nghệ thuật, trước tiên phải xác định nghệ thuật là gì, đó là một tiền đề lý thuyết chưa bao giờ đạt được sự nhất trí trong ngành mỹ học.

Tuy nhiên, qua tất cả các định nghĩa về nghệ thuật, vẫn có thể tìm thấy được tiếng nói chung là một sản phẩm, một vật phẩm, được lọt vào vòng xem xét là nghệ thuật hay không phải, chưa phải là nghệ thuật, vẫn thuộc phạm trù cái đẹp, thuộc loại hoạt động sáng tạo thẩm mỹ của con người.

Một tòa nhà đẹp (kiến trúc) một cái gạt tàn thuốc đẹp (mỹ thuật ứng dụng), một bức hình chụp đẹp (nhiếp ảnh nghệ thuật), một vũ điệu trên băng (thể thao nghệ thuật),… là những sản phẩm, những hoạt động có khi chưa được một trường phái mỹ học xem là nghệ thuật, vì các nhà mỹ học thuộc trường phái này muốn bạn định nghĩa phạm trù nghệ thuật trong khuôn khổ của những sáng tạo thuần túy tinh thần thuần khiết, không liên quan với việc sử dụng, với những mục đích thực tế vật chất.

Nhưng trong đời sống, những hoạt động nghệ thuật tuần túy đó luôn luôn gắn với những hoạt động thẩm mỹ khác, có khi kết hợp, hòa lẫn với nhau để cùng phục vụ nhu cầu thẩm mỹ đa dạng của con người, ranh giới có khi khó phân biệt. Một kiệt tác hội họa có khi xuất xứ từ một bức tranh vẽ đền thờ, theo yêu cầu của tôn giáo, một giai điệu âm nhạc cổ điển có khi trở thành nhân tố tạo nên một chương trình quảng cáo.

Do đó, để tiến tới việc xây dựng một bảng danh mục nghệ thuật, cần phải thừa nhận một phạm trù nghệ thuật theo nghĩa rộng (bao gồm tất cả các loại hình sáng tạo thẩm mỹ ở trình độ cao). Sau đó, sẽ phân biệt hai hệ thống, hai cấp độ khác nhau của các hoạt động đó, tạm gọi là hai hình thái, hai quá trình thẩm mỹ hóa bậc 1 và bậc 2, đó là hai hệ thống nghệ thuật: nghệ thuật thuần nhất và nghệ thuật ứng dụng.

Bảng danh mục và phân loại nghệ thuật như thế nào?

Trước khi lập bảng danh mục và phân loại nghệ thuật, nên xác định những đặc trưng bản chất của nghệ thuật, nói cách khác là cần tìm một câu định nghĩa về nghệ thuật. Như trên đã nói, có thể hình dung thực tiễn đời sống thẩm mỹ như một sơ đồ có ba vòng tròn đồng tâm: vòng rộng nhất là bao gồm mọi hoạt động lao động của con người, ở đâu dù ít nhiều, cũng đi theo quy luật của cái đẹp (Marx).

Từ vòng tròn thứ hai, hoạt động theo quy luật của cái đẹp đạt đến một trình độ tập trung hơn, cao hơn, đó là bắt đầu của thế giới nghệ thuật theo nghĩa rộng nhất của nghệ thuật. Vòng tròn thứ ba trong cùng, là hoạt động nghệ thuật thuần nhất. Vậy cần có hai định nghĩa, theo hai vòng bên trong, một định nghĩa chung, và một định nghĩa chỉ dành cho hoạt động nghệ thuật thuần nhất. Cũng nên nói trước, định nghĩa là một thao tác khoa học rất khó, nhất là những phạm trù thuộc khoa học xã hội, vì định nghĩa là đem nhốt cả sự sống phong phú vào một công thức dễ chủ quan phiến diện.

Nhưng làm lý luận, không thể trốn tránh việc định nghĩa. Với nghệ thuật, ngay trong vấn đề đang trình bày này, định nghĩa nhằm định hướng cho phân loại, và phân loại chứng minh cho định nghĩa. Chẳng hạn, có thể định nghĩa để xếp chung xiếc và nghệ thuật sân khấu kịch vào một loại, nhưng cũng có thể định nghĩa để xếp chúng ở hai loại hoàn toàn khác nhau. Trong lúc đó, có thể định nghĩa để xếp hai nghệ thuật tưởng chừng rất khác nhau vào cùng một loại, đó chính là mỹ nghệ và xiếc, kiến trúc và thể thao nghệ thuật.

Vậy theo ý nghĩa rộng rãi nhất, nghệ thuật là một hình thức ý thức xã hội, là một hoạt động tinh thần, thực tiễn của con người, đi theo quy luật của cái đẹp, ở trình độ phát triển cao hơn, nhằm phục vụ cho con người một đời sống tinh thần phong phú, đáp ứng những nhu cầu và khát vọng của con người vươn tới những giá trị chân thiện mỹ. Cũng mang tất cả những đặc điểm chung đó, loại nghệ thuật thuần nhất là hình thức sáng tạo đặc biệt, được tạo nên bởi người nghệ sĩ có cá tính độc đáo, có tâm hồn giàu cảm xúc, có tài năng sáng tạo.

Nghệ thuật ở đây là tiếng nói tình cảm, tư tưởng của con người gửi đến con người, nhằm biểu đồng tình, kêu gọi, tác động, định hướng cho con người đi vào chiêm ngưỡng, chọn lựa những kinh nghiệm sống và kinh nghiệm tình cảm, thông qua cái cấu trúc cảm tính sinh động đơn nghĩa và đa nghĩa, tả thực và ước lệ, miêu tả và biểu hiện, tạo nên bởi tưởng tượng và hư cấu, đó là hình tượng.

Chữ thuần nhất trong nghệ thuật thuần nhất, nhằm nói tới sự thống nhất chặt chẽ và hài hòa giữa phương tiện và mục đích, giữa nội dung và hình thức trong loại hoạt động này. Nước ngoài có những từ ngữ như bonux arts, belles lettres, văn nghệ thuật, để đối lập với nghệ thuật ứng dụng.

Để tiến tới một bảng danh mục nghệ thuật với sự phân loại cụ thể, xuất phát từ định nghĩa trên, tìm các tiêu chí các bình luận để phân loại và xếp loại, đó là công việc của khoa hình thái học nghệ thuật (morphologie de part). Tư tưởng hình thái học có rất sớm từ trong mỹ học cổ đại, và trước đó nữa, là trong tư duy thần thoại.

Người Hy Lạp xưa có cả một gia hệ các nữ thần (muses) tập hợp dưới trướng của Apollon, thần mặt trời, thần trí tuệ, và thần nghệ thuật. Tất cả có 9 nữ thần nghệ thuật tượng trưng cho 9 loại hình như hoạt động như sau: Clio (lịch sử), Euterpe (âm nhạc), Thalie (hài kịch và thơ điền viên), Melpomene (bi kịch), Terpsichore (múa), Erato (oán thi), Polymnie (thơ trữ tình), Uranie (thiên vân và hình học), Calliope (hùng biện và anh hùng ca).

Trong gia hệ các nữ thần này, con người cổ đại đã có ý thức kén chọn những tinh hoa thuộc về đời sống trí tuệ và tâm hồn, và coi trọng sự nhận thức của con người và về khoa học và nghệ thuật, chưa tách biệt nghệ thuật ra khỏi khoa học, vẫn là một khối nguyên hợp những sáng tạo tinh thần.

Tuy không có mặt trong gia hệ này, nhưng kiến trúc và thủ công mỹ nghệ vẫn có những vị thần bảo trợ khác, đó là vị thần lữa, cũng là thần luyện kim Hephaistos, chuyên lo xây dựng cung điện và rèn vũ khí cho các vị thần, dạy cho thế gian làm các lò rèn.

Nữ thần Athena con gái của Zeus cũng là một nữ thần khoa học và nghệ thuật, chăm lo nghề kim chỉ thêu thùa và cả âm nhạc dụng cụ. Căn cứ trên tư duy thần thoại đó, các nhà mỹ học về sau đã dựng nên hai hệ thống nghệ thuật dưới sự chỉ đạo của hai vị thần: hệ thống Apollon (các nghệ thuật tinh thần) và hệ thống Hephaistos (các nghệ thuật vật chất).

Tiêu chí phân loại nghệ thuật là gì?

Thâu tóm những quan niệm phân loại, những tư tưởng hình thái học qua các thời đại, có thể rút ra được các cặp tiêu chí phân loại sau đây:

– Tiêu chí bản thể (onthologie): NT không gian/ NT thời gian hoặc TĨnh/ Động. Xác định điều kiện tồn tại của tác phẩm nghệ thuật, từ đó nảy sinh những đặc trưng về phương thức sáng tác và thể hiện.

– Tiêu chí tâm lý: NT thính giác/ NT thị giác. Thính giác gắn liền với NT không gian. Cặp tiêu chí này phân chia nghệ thuật thành hai loại bị chi phối bởi đặc trưng tâm sinh lý sáng tác và cảm thụ là nghe và nhìn.

– Tiêu chí ký hiệu (semiologie): Miêu tả/ Không miêu tả. Còn gọi Miêu tả (description) hay Tạo hình (figuratif)/ Biểu hiện (expressif). Do đặc điểm trực tiếp bộc lộ thái độ của chủ thể hay gián tiếp bộc lộ chủ thể thông qua những hình ảnh tái tạo hiện thực nghệ thuật, sẽ có hai loại tác phẩm khác nhau, là thiên về chủ quan hay thiên về khách quan.

– Tiêu chí tính năng: NT đơn tính (một tính năng)/ NT lưỡng tính (hai tính năng). Hoặc NT thuần nhất/ NT ứng dụng. Đây là tiêu chí quan trọng nhất nhằm phân biệt hai hệ thống nghệ thuật khác biệt nhau: hệ thống NT thuần nhất chỉ mang một tính năng thẩm mỹ. Hệ thống nghệ thuật ứng dụng mang hai tính năng là tính năng ích dụng và tính năng thẩm mỹ. Trong đó, tính năng ích dụng là cơ bản, và tính năng thẩm mỹ là thứ yếu.

Mỗi một loại hình nghệ thuật thường mang đến đặc điểm phù hợp với mấy tiêu chí khác nhau. Chẳng hạn, âm nhạc thì NT thời gian, thính giác, không miêu tả, một tính năng (hoặc hai tính năng, nếu là nhạc ứng dụng), hội họa thì NT không gian, thị giác, miêu tả (trừ thể loại trừu tượng), một tính năng (hoặc hai tính năng nếu là hội họa ứng dụng).

Cuối cùng, có những loại hình mang đặc trưng của nhiều nghệ thuật, vì sử dụng phương tiện của tất cả các nghệ thuật đó, gọi là nghệ thuật tổng hợp (như sân khấu, điện ảnh, kiến trúc,…) Do đó, có thể thêm một cặp tiêu chí thứ 5.

– NT độc lập/ NT tổng hợp hoặc NT độc lập/ NT liên kết: chỉ có hai yếu tố như văn học với âm nhạc (ca khúc) múa và nhạc (múa). Ngoài ra, người ta có thể kể các cặp tiêu chí khác như trình diễn/ không trình diễn, ngôn ngữ/ phi ngôn ngữ.

Bảng danh mục nghệ thuật như thế nào?

Sau đây, xin giới thiệu ba bảng danh mục: bảng danh mục tổng quát bao gồm tất cả các loại hình, bảng danh mục nghệ thuật đơn tính NT thuần nhất, bảng danh mục nghệ thuật lưỡng tính NT ứng dụng.

CT là trình tự sắp xếp các nghệ thuật theo quan điểm lịch sử logic, các nghệ thuật có tính chất gắn với lao động sản xuất và xuất hiện sớm hơn trong lịch sử thì xếp trước (nghệ thuật ứng dụng, kiến trúc, điêu khắc) và xếp nghệ thuật độc lập (hội họa, âm nhạc) trước các nghệ thuật tổng hợp (sân khấu, màn ảnh).

Bảng 1: Danh mục tổng quát về các loại hình nghệ thuật

Hệ thống 1: NT đơn tính. Bao gồm: Điêu khắc; Hội họa đồ họa; Văn chương; Âm nhạc; Múa; Sân khấu; Phim (trong điện ảnh và truyền hình)
Hệ thống 2: NT lưỡng tính. Bao gồm: Kiến trúc; Đồ dùng công cụ; Trang trí; Hoa văn; Điêu khắc ứng dụng; Hội họa đồ họa ứng dụng; Nhiếp ảnh;

Hệ thống 1: NT Đơn Tính Hệ thống 2: NT Lưỡng Tính
Điêu khắc
Hội họa đồ họa
Văn chương
Âm nhạc
Múa
Sân khấu
Phim (trong điện ảnh và truyền hình)
Kiến trúc
Đồ dùng công cụ
Trang trí
Hoa văn
Điêu khắc ứng dụng
Hội họa đồ họa ứng dụng
Nhiếp ảnh
Văn chương ứng dụng
Âm nhạc ứng dụng
Múa ứng dụng
Sân khấu ứng dụng
Màn ảnh ứng dụng
Xiếc
Thể thao nghệ thuật

Bảng 2: Nghệ thuật một tính năng mới (Nhóm loại hình – loại hình – loại thể)

  • Nhóm không gian (Điêu Khắc).
    • Nhóm miêu tả: Điêu khắc (điêu khắc tròn đắp nổi, tượng nhỏ, tượng dài, tượng hoành tráng). Hội họa đồ họa (tranh trên giá, tranh hoành tráng, tranh chân dung phong cảnh, bố cục linh vật).
    • Nhóm không miêu tả: Điêu khắc không biểu hình. Hội họa không biểu hình.
  • Nhóm thời gian (Văn Chương, Âm Nhạc).
    • Nhóm miêu tả: Tự sự (truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết). Trữ tình (thơ trữ tình, tùy bút). Kịch (kịch bản).
    • Nhóm không miêu tả: Thanh nhạc (ca khúc, tổ khúc, opera). Khí nhạc (hòa tấu, etude, sonata, concerto, symphonie).
  • Nhóm không gian – thời gian (NT tổng hợp và liên kết – Sân khấu kịch, Múa)
    • Nhóm miêu tả: Sân khấu kịch (kịch nói, kịch hát, kịch rối). Phim nghệ thuật (trong điện ảnh và truyền hình. Phim truyện. Phim tài liệu nghệ thuật.
    • Nhóm không miêu tả: Múa biểu hiện. Múa giao tế. Kịch múa.

Bảng 3: Nghệ thuật hai tính năng (nhóm loại hình – loại hình – loại thể)

 

 

 

Lê Ngọc Trà
Lâm Vinh
Huỳnh Như Phương

Bạn đang xem bài viết
Nghệ thuật và bảng phân loại nghệ thuật là gì?
https://tampacific.com/nghe-thuat-va-bang-phan-loai-nghe-thuat-la-gi.html
Image by Полина Андреева from Pixabay
#caidep #tacpham #nghethuat #tampacific

Các tìm kiếm liên quan đến bảng phân loại nghệ thuật: 7 loại hình nghệ thuật wiki, Bản chất của nghệ thuật, Các loại hình nghệ thuật hiện đại, Các loại hình nghệ thuật Việt Nam, Các thể loại nghệ thuật, Loại hình nghệ thuật âm nhạc, Loại hình nghệ thuật là gì, Môn nghệ thuật thứ 8, Nguồn gốc của nghệ thuật, Phân loại nghệ thuật, Tác phẩm nghệ thuật là gì, Văn học và các loại hình nghệ thuật

error: Alert: Content is protected !!