Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế trong Thời Kỳ

Lịch sử hiện đại chứng kiến hai cuộc cách mạng trong lĩnh vực lực lượng sản xuất. Cuộc cách mạng thứ nhất là cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX đã làm xuất hiện nền sản xuất cơ khí hiện đại. Người ta đã tạo ra và phổ biến rộng rãi ở khắp nơi những máy cơ khí, thay thế lao động của hàng trăm nghìn và hàng triệu công nhân.

Ngay ở thế kỷ trước, con người đã học được cách thiết kế và chế tạo những máy móc, mà năng suất của chúng vượt hàng chục, và thậm chí hàng trăm lần so với khả năng thể lực của con người.

Những cuộc cách mạng công nghiệp, không chỉ đem lại sự phát triển mạnh mẽ các lực lượng sản xuất của xã hội nhờ sử dụng kỹ thuật cơ khí, mà nó còn dẫn đến những chuyển biến to lớn trong quan hệ xã hội. Nửa sau thế kỷ XX, đánh dấu sự mở đầu cuộc cách mạng thứ hai trong các lực lượng sản xuất của xã hội, đó chính là cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật.

Đặc điểm cơ bản của cách mạng khoa học kỹ thuật

Sự khác biệt chủ yếu của nó so với cuộc cách mạng công nghiệp, là ở chỗ kỹ thuật cơ khí mới và những phương pháp khoa học gắn liền với kỹ thuật ấy được nhân lên gấp bội, không những chỉ thể lực mà đặc biệt là cả trí lực của con người nữa.

Hiện đang diễn ra những thay đổi căn bản trong tất cả các khâu quản lý nền sản xuất xã hội, bao gồm lĩnh vực nghiên cứu khoa học, tổ chức sản xuất ở xí nghiệp, ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Ngày nay, trước nhân dân Liên Xô, đang đặt ra một nhiệm vụ có tầm quan trong lịch sử, là liên kết một cách hữu cơ những thành quả của cách mạng khoa học kỹ thuật, với những ưu việt của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, phát triển rộng rãi hơn những hình thức phối hợp khoa học, và sản xuất vốn có của chủ nghĩa xã hội.

Ngay trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa cộng sản, cũng đã hình thành những điều kiện khách quan thuận lợi nhất, để phát triển đầy đủ tiềm năng sáng tạo của khoa học, và sử dụng những thành tựu của nó trong nền sản xuất xã hội.

Trước hết, đó là chế độ xã hội chủ nghĩa nhằm tiến tới xây dựng chủ nghĩa cộng sản, có khả năng tập trung sức lực, và phương tiện cần thiết để làm điều đó, nhanh chóng chuyển hướng nguyên vẹn một số ngành sản xuất sang các loại sản phẩm mới và công nghệ chế tạo mới.

Chế độ xã hội chủ nghĩa tạo ra những khả năng to lớn, để phát triển văn hóa kỹ thuật của mọi tầng lớp nhân dân, điều này có tầm quan trọng bậc nhất đối với việc phát triển nhanh chóng khoa học, và nắm vững các loại hình công nghệ và kỹ thuật mới dựa trên khoa học ấy.

Đảng Cộng Sản và Chính Phủ Liên Xô

Đã và vẫn luôn luôn đặc biệt chú ý tới sự phát triển khoa học ở Liên Xô. Chính ở Liên Xô, lần đầu tiên trong lịch sử, sự phát triển khoa học đã trở thành sự nghiệp của toàn quốc, trở thành mối quan tâm thường xuyên của toàn dân.

Không một nước nào lại có tốc độ đào tạo cán bộ khoa học, tốc độ tăng số lượng cán bộ khoa học và các cơ quan khoa học cao đến như thế. Quả vậy, số lượng cán bộ khoa học từ Cách Mạng Xã Hội Chủ Nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã tăng lên 100 lần, và đến cuối kế hoạch năm năm lần thứ mười (1976 – 1980) là 1,4 triệu người, chiếm một phần tư số cán bộ khoa học trên thế giới.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa thường xuyên tăng chi phí cho khoa học. Thí dụ, nếu năm 1960 với thu nhập quốc dân là 145 tỷ rúp, chi phí cho khoa học là gần 4 tỷ rúp, thì năm 1980 với thu nhập quốc dân gần 450 tỷ rúp, thì chi phí cho khoa học đã chiếm hơn 21 tỷ rúp. Điều đó, có nghĩa là trong 20 năm, phần chi phí cho khoa học lấy từ thu nhập quốc dân đã tăng từ 2,7 lên 4,6%.

Sự tăng nhanh các nguồn tư liệu sử dụng trong lĩnh vực khoa học như vậy, là hợp quy luật đối với thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật. Trong thời đại, chúng ta không thể phát triển được sản xuất, nếu không sử dụng các thành tựu của khoa học.

Những kết quả nghiên cứu khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Quá trình biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp đang diễn ra, chẳng những trong các ngành khoa học tự nhiên, và kỹ thuật mà cả trong các ngành khoa học xã hội.

Khoa Học Tự Nhiên và Khoa Học Xã Hội

Ai cũng biết, khoa học được phân chia thành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Đồng thời, người ta cũng biết rằng, những ngành khoa học tự nhiên, thường có không chỉ những thành tựu thực tiễn lớn lao, không thể phủ nhận được, mà trong nhiều trường hợp còn có lý luận chung về sự phát triển các hiện tượng, và các quá trình tự nhiên trên một phạm vi rộng rãi.

Điều này đã làm cho khoa học tự nhiên trong một thời gian dài, được thừa nhận là thủ lĩnh trong hệ thống sản sinh tri thức. Tuy nhiên, không nên quên mối liên hệ qua lại mật thiết giữa các ngành khoa học, mà lại càng không nên đặt chúng đối lập với nhau.

Cùng với việc xây dựng các quan điểm mang tính chất phương pháp luận, và hệ thống công cụ nghiên cứu riêng của mình, các ngành khoa học xã hội ngày càng sử dụng nhiều hơn các phương tiện nghiên cứu đặc trưng cho các ngành khoa học tự nhiên, trước hết là các phương pháp toán học và thực nghiệm.

Ngày nay, đang vang lên một cách đặc biệt cấp thiết những lời nói của V.I. Lê Nin: “Như mọi người đều biết, trào lưu mạnh mẽ đi từ khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội, không những chỉ tồn tại ở thời đại PetTi, mà cả ở thời đại Mác. Đến thế kỷ XX, trào lưu đó vẫn còn mạnh không kém thế, nếu không phải là mạnh hơn”.

Các nhà khoa học xã hội giúp ta giải quyết những điều trái ngược trong giai đoạn phát triển hiện tại của loài người, khi lực lượng sản xuất khổng lồ do con người tạo ra chủ yếu nhờ những thành tựu của khoa học tự nhiên để cải thiện các điều kiện sống, đã bắt đầu làm cho những điều kiện ấy xấu đi một cách rõ rệt.

Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế

Thật vậy, nhiều sản phẩm của nền văn minh hiện đại giảm bớt hoặc làm hư hại các nguồn môi trường tự nhiên: không khí trong lành, nước, động vật và thực vật, phong cảnh và đất đai phì nhiêu; việc dùng nhiều loại thuốc có tác dụng chống lại bệnh tật, đưa tới chỗ tích lũy những biến đổi di truyền, không tốt trong cơ thể con người; việc giảm nhẹ lao động, rút ngắn thời gian làm việc nhờ tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng tạo ra những vấn đề phức tạp trong việc tổ chức thời gian nhàn rỗi.

Còn có thể nêu rất nhiều những mâu thuẫn như vậy, mà việc giải quyết chúng đòi hỏi phải phát triển nhanh các ngành khoa học xã hội. Đặc biệt, quan trọng là vai trò của những ngành khoa học này trong việc xác định vị trí, phương hướng và quy mô sử dụng những phát minh của khoa học tự nhiên, và những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại cho phù hợp với những mục tiêu phát triển xã hội, có tính đến sự tác động qua lại của tất cả các bộ phận, và các mặt của quá trình thống nhất phát triển loài người.

Từ tất cả những điều nói trên, rõ ràng là hiện nay trào lưu ấy, là quá trình qua lại: từ khoa học xã hội sang khoa học tự nhiên, và từ khoa học tự nhiên sang khoa học xã hội. Cũng rõ ràng là khoa học tự nhiên không có khả năng tự mình, không cần đến sự hỗ trợ của khoa học xã hội, giải quyết những nhiệm vụ xã hội to lớn đặt ra trước toàn thể nhân loại, trước chế độ xã hội chủ nghĩa.

Ở đây, cần có sự thống nhất, sự hợp tác sáng tạo của những đại diện của mọi lĩnh vực tri thức tự nhiên, cũng như xã hội. Cuối cùng, khi nói tới khoa học như là lực lượng sản xuất trực tiếp trong xã hội chủ nghĩa phát triển, ta phải bao hàm cả, các khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội.

Thực tiễn, chứng tỏ rằng trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật, cách hiểu mối liên hệ qua lại giữa các ngành khoa học như vậy là đúng đắn.

Làm thế nào để củng cố vai trò của khoa học?

Quá trình biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thực ra gắn bó với tất cả các mặt hoạt động kinh tế của Nhà Nước, bằng những mối liên hệ vô hình, để lại dấu ấn của mình lên các mặt hoạt động đó, đồng thời đề xuất những yêu cầu mới, ngày càng cao hơn đối với hoạt động của cơ chế kinh tế, đối với hoạt động của các tập thể và cán bộ khoa học trong tất cả các ngành kinh tế quốc dân.

Việc biến khoa học, trong đó có cả khoa học xã hội, thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đang trở thành một nhân tố ngày càng tác động mạnh mẽ hơn, để đưa nhân dân Liên Xô tiến lên Chủ Nghĩa Cộng Sản. Vấn đề đặt ra, là làm thế nào để bằng mọi cách củng cố được vai trò đó của khoa học, mà ý nghĩa của nó đang không ngừng tăng lên và phải tăng lên nhanh hơn nữa.

Trong những thập niên vừa qua, ở Liên Xô ý nghĩa của khoa học kinh tế đã tăng lên, số các cơ quan nghiên cứu khoa học kinh tế và các trường đại học tăng lên khá nhiều. Những kiến thức kinh tế ngày càng thấm sâu vào quần chúng.

Hàng triệu công nhân và viên chức nghiên cứu kinh tế học, trong mạng lưới tuyên giáo của Đảng. Xuất bản sách báo kinh tế tăng lên nhiều lần. Số lần các tạp chí kinh tế chuyên ngành đã hơn 3 lần.

Sự phát triển mạnh mẽ như vậy, về mặt số lượng của khoa học kinh tế đã bắt đầu nở hoa kết quả. Một số nhà kinh tế Liên Xô đã được tặng những phần thưởng khoa học cao nhất, giải thưởng Lênin và giải thưởng quốc gia. Năm 1975, nhà bác học Liên Xô là L. V. Cantorovich đã nhận giải thưởng Nobel về kinh tế.

Vai trò của khoa học kinh tế là gì?

Vai trò của khoa học kinh tế là dấu hiệu đặc trưng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang tăng lên. Trong những điều kiện hiện tại, kinh tế nổi lên hàng đầu, chính vì nó quyết định hiệu quả áp dụng của các thành tựu khoa học và kỹ thuật.

Quyết định sự tiếp tục phát triển tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiến hành cải tạo kinh tế xã hội, thực hiện những nhiệm vụ phức tạp nhất trong xây dựng kinh tế, lựa chọn và xác lập căn cứ cho những đường lối phát triển các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật tiến bộ như năng lượng, hóa học, cơ khí chế tạo, …

Đồng thời, có thể dẫn ra không ít các ví dụ khi các hệ thống kích thích kinh tế không thích đáng, các giá cả được thiết lập một cách không đúng đắn, tổ chức quản lý không hoàn thiện đã làm trở ngại việc áp dụng các kết quả của tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, đã có ảnh hưởng tiêu cực tới bản thân lĩnh vực sáng tạo khoa học kỹ thuật.

Vì thế, sẽ không phải là quá lời khi nói rằng hiện nay, nhiệm vụ tiếp tục phát triển tổ hợp các ngành khoa học kinh tế, đang trở thành nhiệm vụ quan trọng nhất, cũng là nhiệm vụ cơ bản giống như phát triển vật lý, toán học, sinh học vậy.

Chẳng những việc sử dụng các kết quả của cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, mà cả bản thân nhịp độ phát triển cuộc cách mạng ấy, suy cho cùng sẽ đều phụ thuộc vào sự phát triển của các kiến thức kinh tế.

Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế

Nhu cầu tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận trong lĩnh vực kinh tế không giảm xuống, mà ngày càng lớn hơn như đã chỉ rõ tại Đại Hội XXV và XXVI của Đảng Cộng Sản Liên Xô. Cần phải có những công trình nghiên cứu.

Trước hết là gắn liền với sự phát triển toàn diện của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa, những khuyến nghị tạo khả năng nâng cao một cách căn bản hiệu quả của nền sản xuất ấy. Đại hội đề ra một chương trình rộng lớn tiếp tục phát triển khoa học kinh tế, chỉ ra những vấn đề cơ bản mà các nhà bác học kinh tế cần phải chú trọng.

Lúc này, điều có ý nghĩa đặc biệt là những công trình nghiên cứu sâu sắc về các xu thế phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa và lực lượng sản xuất của nó: về đặc điểm và nội dung lao động trong những điều kiện của chủ nghĩa xã hội chín muồi, về sự biến đổi của cấu trúc xã hội, hoàn thiện chế độ phân phối theo lao động, kết hợp khuyến khích tinh thần và vật chất, về lối sống xã hội chủ nghĩa và sự phát triển văn hóa.

Thuộc vào đây còn có cả những vấn đề môi trường xung quanh, và sử dụng thiên nhiên cũng như nghiên cứu chính sách dân số có hiệu quả và những vấn đề khác. Như đã chỉ rõ tại Đại Hội XXV và XXVI, Đảng Cộng Sản Liên Xô để giải quyết tất cả những vấn đề này, cần phải liên kết nỗ lực của các nhà bác học các ngành khoa học xã hội và tự nhiên.

Trong tất cả những cái đó, điều chủ yếu là nghiên cứu các vấn đề lý luận của kinh tế, trong mối liên hệ qua lại chặt chẽ hơn nữa với các vấn đề cải tiến hệ thống hoạt động kinh tế.

Phương hướng nghiên cứu khoa học kinh tế cơ bản ra sao?

Việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản của kế hoạch hóa kinh tế quốc dân, đặc biệt là việc nghiên cứu tích cực các cơ sở phương pháp luận của kế hoạch hóa triển vọng, dài hạn ngày càng được chú ý tới nhiều hơn.

Hiện nay, có thể nói rằng, ít nhất về mặt lý luận cũng đã hiện rõ những nét tổng quát của một hệ thống kế hoạch hóa đồng bộ hoàn thiện hơn, liên kết một cách hữu cơ công việc dự đoán, kế hoạch hóa dài hạn, trung hạn và ngắn hạn, những cơ sở phương pháp của việc sử dụng nguyên tắc chương trình có mục tiêu trong kế hoạch hóa và quản lý nền kinh tế quốc dân.

Những đề nghị về cải tiến hệ thống hình thành giá cả, hoàn thiện các phương pháp xác định hiệu quả kinh tế của vốn đầu tư và kỹ thuật mới, đang được xem xét. Những vấn đề về chính sách dân số đang được tổ chức nghiên cứu rộng rãi hơn. Việc kiểm định thực nghiệm các khuyến nghị đối với vấn đề đánh giá kinh tế, và hợp lý hóa việc sử dụng các nguồn lợi thiên nhiên được triển khai.

Như vậy, thực tiễn hiện nay đang đặt ra trước các nhà kinh tế Liên Xô những vấn đề phức tạp, đôi khi đòi hỏi phải suy nghĩ lại có phê phán nhiều quan niệm đã định hình. Ngày nay, việc lựa chọn các phương hướng nghiên cứu khoa học kinh tế cơ bản cũng như nghiên cứu ứng dụng, hoàn thiện tổ chức nghiên cứu khoa học, tăng cường mối liên hệ giữa chúng với thực tiễn của công cuộc xây dựng Cộng Sản Chủ Nghĩa, thảo luận các vấn đề của khoa học Mác Xít, Lêninnít ngày càng có ý nghĩa quan trọng hơn.

Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế

Để nâng cao trình độ công tác kế hoạch, làm cho nó phù hợp với những quy mô và đặc tính mới của nền kinh tế quốc dân, với những yêu cầu của thời đại, thì như đã vạch rõ tại Đại Hội XXV và Đại Hội XXVI của Đảng Cộng Sản Liên Xô.

Cần phải tập trung sức lực và các nguồn của cải để thực hiện những chương trình chung toàn quốc quan trọng nhất, phối hợp khéo léo hơn sự phát triển theo ngành và theo lãnh thổ, những vấn đề triển vọng và những vấn đề trước mắt, và kinh tế còn phải làm rất nhiều để giải quyết những nhiệm vụ đó.

Ở đây, có một phạm vi rộng lớn để vận dụng những nỗ lực của khoa học kinh tế, để áp dụng những phương pháp khoa học hiện đại. Trong đó, có những phương pháp toán kinh tế, để sử dụng các hệ thống quản lý tự động.

Các nhà bác học Liên Xô đang nghiên cứu những phương cách tiếp tục phát triển sản xuất theo chiều sâu, vai trò của những nhân tố khác nhau trong sự phát triển sản xuất, những vấn đề xây dựng cơ cấu động có hiệu quả của nền kinh tế quốc dân.

Những phương cách và phương pháp hạ thấp lượng vật liệu trong sản phẩm, những phương pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao trình độ hoạt động trong mọi lĩnh vực, và mọi khâu của nền kinh tế quốc dân.

Quan niệm về kinh tế và phương pháp luận nghiên cứu

Những quan niệm về kinh tế và phương pháp luận nghiên cứu nó, cũng đang được làm phong phú thêm một cách căn bản. Sự nhất thể hóa các ngành khoa học mà đã chứng tỏ hùng hồn tính hiệu nghiệm của nó trong nhiều lĩnh vực tri thức, dẫn tới sự tổng hợp khoa học kinh tế với nhiều bộ môn toán học, điều khiển học, xã hội học, tâm lý học và luật học.

Tại nơi hợp lưu của các ngành khoa học đang nảy sinh những quan điểm mới, làm phong phú thêm hệ thống các công cụ nghiên cứu kinh tế, những quan niệm mới mở rộng, và làm rõ hơn cách hiểu của chúng ta về hệ thống kinh tế.

Đóng vai trò quyết định trong quá trình này hiện nay là toán học hóa khoa học kinh tế, hình thành và phát triển nhanh chóng phương hướng mới, đó chính là phương hướng toán kinh tế.

Có ý kiến cho rằng, dường như nhiệm vụ của toán học trong kinh tế chỉ hạn chế ở việc minh họa, hoặc củng cố thêm những kết luận do các nhà kinh tế rút ra, mà không dùng đến các phương pháp toán học. Chúng tôi kiên quyết không tán thành quan niệm đó.

Sự áp dụng toán học trong khoa học kinh tế, thực ra có nghĩa là sự phát triển tiếp tục bản thân khoa học kinh tế, đặc biệt là phương pháp luận kế hoạch hóa, và quản lý trên cơ sở áp dụng các phương toán kinh tế để nghiên cứu.

Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế

Không thể có hai lý luận kinh tế song song của chủ nghĩa xã hội, có áp dụng và không áp dụng toán học, mà chỉ có một khoa học kinh tế Mác Xít và Lê Nin Nít duy nhất. C Mác cho rằng, bất kỳ khoa học nào cũng chỉ đạt được sự hoàn thiện khi nó sử dụng được toán học. Còn về kinh tế, thì hiện nay nó đang bước vào chính giai đoạn đó.

Khối lượng thông tin phải xử lý trong nền kinh tế quốc dân hết sức lớn, và không ngừng tăng lên. Mỗi một thao tác sản xuất tiến hành trong nền kinh tế quốc dân, đều đã được kế hoạch từ trước, đã có lệnh thực hiện.

Chính việc thực hiện mỗi một thao tác sản xuất lại sản sinh những thông tin mới (chẳng hạn như tính toán các hao phí lao động, vật tư, phương tiện tài chính, thời gian làm việc của thiết bị,…). Trên cơ sở đó, lại ra các quyết định, tức là lựa chọn thông tin mới,… Quá trình này, là vô hạn cũng như chính bản thân quá trình sản xuất và tái sản xuất trong xã hội.

Vì thế, trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật, những phương pháp nghiên cứu thuần túy này, về mặt chất lượng trong kinh tế được áp dụng rộng rãi trước kia, hiện nay rõ ràng là không đủ. Nhưng sẽ không đúng nếu cho rằng, ngày nay cần phải loại bỏ những phương pháp đó ra khỏi thực tiễn nghiên cứu kinh tế.

Mọi yếu tố tích cực, chứa đựng trong những phương pháp ấy phải được sử dụng một cách tối đa, để tạo ra hệ thống công cụ phương pháp của khoa học kinh tế, có khả năng đáp ứng được những yêu cầu hiện đại.

Điều khiển học kinh tế là gì?

Bộ môn khái niệm khoa học của điều khiển học kinh tế là cơ hội để giúp ta nghiên cứu sâu sắc hơn các quá trình quản lý, thành lập các phương pháp và định mức khoa học của quản lý, xây dựng hệ thống lãnh đạo nền kinh tế quốc dân.

Điều khiển học kinh tế xem xét công nghệ của quá trình quản lý, như là quá trình xử lý các thông tin sản xuất, tài chính, các thông tin về nguồn tư liệu, về cán bộ và các thông tin kinh tế khác, bao gồm việc chọn lọc, truyền đạt, thảo ra các quyết định và kiểm tra việc thực hiện các quyết định ấy trên cơ sở các thông tin liên hệ ngược.

Điều khiển học kinh tế là cơ sở khoa học để thành lập các hệ thống quản lý tự động. Các hệ thống này, là cơ sở vật chất để phát triển hơn nữa, các phương pháp toán kinh tế và áp dụng máy tính điện tử trong kinh tế.

Phải thừa nhận việc ý thức được rằng, cần phải chuyển từ mô hình hóa toán kinh tế, chủ yếu là các quá trình công nghệ sản xuất sang phân tích, và mô hình hóa các quá trình kinh tế xã hội là kết quả quan trọng trong công tác nghiên cứu của các nhà kinh tế Liên Xô trong những năm gần đây.

Do đó, những công trình nghiên cứu toán kinh tế bắt đầu bao trùm một phạm vi các vấn đề, ngày càng rộng lớn hơn, có quan hệ tới sự phát triển nền sản xuất xã hội xã hội chủ nghĩa nói chung. Tất cả những điều nói trên, giúp ta hiểu rõ ý nghĩa và các kết quả của cách mạng khoa học kỹ thuật, đối với khoa học kinh tế.

Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế

Thứ nhất, kinh tế là môi trường quan trọng nhất để ứng dụng các kết quả của cách mạng khoa học kỹ thuật tự động hóa sản xuất, và quản lý sản xuất, khai thác những nguồn năng lượng và vật liệu mới, các quá trình công nghệ mới.

Điều này, làm thay đổi một cách căn bản khái niệm về các nguồn tư liệu, và các phương thức cải tiến chúng trong hệ thống kinh tế, đề xuất những yêu cầu mới, đối với việc quản lý hệ thống kinh tế.

Thứ hai, cách mạng khoa học kỹ thuật tác động tới tính chất, và khối lượng các nhu cầu của xã hội, trong đó có cả nhu cầu mà kinh tế phải đáp ứng. Như vậy, những mục tiêu cụ thể của hệ thống kinh tế bị biến đổi.

Thứ ba, đây là tiền đề để giải quyết hai vấn đề trên, đã xuất hiện sự cần thiết phải sử dụng những quan niệm và quan điểm khoa học hiện đại, khi phân tích những vấn đề kinh tế mới, tức là về thực chất đòi hỏi phải xây dựng các phương pháp mới, để nghiên cứu kinh tế.

Nhằm nâng cao một cách căn bản chất lượng của công tác kế hoạch hóa và quản lý kinh tế. Do đó, sẽ tạo ra một khả năng khách quan để tổ chức, kế hoạch hóa và quản lý tối ưu nền kinh tế.

Quan niệm như vậy về những hình thức tác động quan trọng nhất của cách mạng khoa học kỹ thuật, tới nền kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa là cơ sở của thuật ngữ dùng trong những tài liệu được chia sẻ này. Ở đây, ta hiểu …

Kế hoạch hóa tối ưu là gì?

Kế hoạch hóa tối ưu là khả năng của toàn bộ hệ thống các cơ quan kinh tế luận thức, và chi tiết hóa một cách đúng đắn và rõ ràng các mục tiêu của hệ thống kinh tế nói chung, và của mỗi khâu của nó.

Xác định tiêu chuẩn tối ưu đối với toàn bộ các nhiệm vụ có liên hệ qua lại với nhau của kế hoạch, và giải quyết toàn bộ các nhiệm vụ ấy và mỗi một nhiệm vụ riêng một cách tối ưu, tức là trong mỗi trường hợp cụ thể tìm ra một cách giải quyết tốt nhất, duy nhất nhiệm vụ đã cho.

Quản lý tối ưu đòi hỏi phải có một cơ chế được thiết kế, và chỉnh lý một cách tốt nhất, đảm bảo thực hiện được các kế hoạch tối ưu. Một cơ chế như vậy bao gồm những đòn bẩy hành chính và kinh tế của quản lý phối hợp với nhau, theo một cách nhất định.

Hoạt động kinh tế tối ưu là chế độ hoạt động kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, và quan hệ sản xuất. Trong đó, tất cả các nguồn tư liệu được sử dụng đầy đủ nhất, và hiệu quả nhất, nhằm đáp ứng những nhu cầu của toàn thể xã hội và mỗi một thành viên của nó.

Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế

Trên cơ sở cách hiểu vai trò của khoa học kinh tế như vậy, trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật. Viện Toán Kinh Tế Trung Ương thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô từ giữa những năm 1960, đã chuyển sang nghiên cứu theo quan điểm hệ thống các vấn đề kế hoạch hóa và hoàn thiện các cơ chế kinh tế của công tác quản lý nền kinh tế quốc dân, và hiện nay, đó là những phương hướng hoạt động chủ yếu của Viện.

Khái niệm về hệ thống hoạt động tối ưu của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa hình thành ở Viện Toán Kinh Tế Trung Ương là biểu hiện của quan điểm ấy. Trong khuôn khổ của khái niệm này, các cơ chế nghiên cứu xây dựng, và thực hiện kế hoạch được khảo sát một cách thống nhất chặt chẽ.

Hiện nay, đang đặt ra mục tiêu thành lập và khai thác một hệ thống quản lý kinh tế thống nhất, hợp lý và có hiệu quả được thiết kế trên cơ sở các nguyên lý khoa học hiện đại, và tổng kết kinh nghiệm đã thu được. Hệ thống này, sẽ đáp ứng được nhiều nhất những yêu cầu của chủ nghĩa xã hội phát triển, xã hội xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ cách mạng khoa học kỹ thuật.

N.P. Phê-đô-rên-cô

Nếu bạn cần quay về Chuyên Mục, thì hãy truy cập link dưới đây
https://tampacific.com/toi-uu-hoa-kinh-te

Bạn đang xem bài viết
Khoa Học Kinh Tế và Thực Tế Quản Lý Kinh Tế trong Thời Kỳ Cách Mạng Khoa Học Kỹ Thuật
https://tampacific.com/toi-uu-hoa-kinh-te/khoa-hoc-kinh-te-va-thuc-te-quan-ly-kinh-te-trong-thoi-ky
Hình ảnh được cung cấp bởi Gerd Altmann, Phạm Quốc Nguyên, Omar Hadad, Free-Photos từ Pixabay

Các tìm kiếm có liên quan: khoa học kinh tế là gì, khoa kinh tế gồm những ngành nào, bài nghiên cứu khoa học mẫu ueh, ví dụ về kinh tế học, nghiên cứu khoa học euh, ngành kinh tế học, chuyên ngành kinh tế, nghiên cứu khoa học kinh tế là gì, đào tạo khóa học ngắn hạn, khóa học ngắn hạn thực tế kinh tế xã hội, nghiên cứu khoa học sinh viên, đào tạo khóa học kinh tế ngắn hạn, môn khoa học xã hội nghiên cứu sự sản xuất.

Các tìm kiếm có liên quan: khái niệm quản lý kinh tế, các trường có ngành quản lý kinh tế, ngành kinh tế chuyên ngành quản lý kinh tế ra trường làm gì, ngành quản lý kinh tế học viện báo chí, cơ hội việc làm ngành quản lý kinh tế, kỹ năng quản lý kinh tế, ngành kinh tế, chuyên ngành quản lý kinh tế học viện báo chí, ngành quản lý kinh tế nếu, hệ thống quản lý kinh tế ứng dụng, nghiên cứu quản lý kinh tế, nhà quản lý kinh tế tương lai.

error: